CÔNG TY CP GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG NHẤT TINH

Nhà cung cấp thiết bị và giải pháp công nghệ trong ngành nước và xử lý môi trường

Báo cáo chương trình quan trắc nước thải tự động của Bình Dương

Thứ 3, 08/05/2018, 12:50 GMT+7

CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC NƯỚC THẢI TỰ ĐỘNG CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NGUỒN THẢI LỚN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Nguyễn Hồng Nguyên

PGD Phụ trách TTQTTNMT Bình Dương

  1. Giới thiệu sơ lược về Bình Dương

Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đông Nam bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông và Tây của tỉnh được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai.

Bình Dương, có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 3 thị xã (Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An) và 4 huyện (Tân Uyên, Bến Cát, Phú Giáo, Dầu Tiếng) với 91 xã, phường, thị trấn; Thị xã Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh. Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.695 km2, dân số 1.663.411 người (số liệu thống kê 31/12/2010), trong những năm gần đây, Bình Dương có tốc độ tăng dân số thuộc vào hàng cao nhất nước, khoảng 7%/năm, chủ yếu do tăng dân số cơ học.

Trong nhiều năm qua, Bình Dương là một trong những tỉnh có sự tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp năng động của cả nước, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp là 65,5% - 30% - 4,5%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, bình quân 14,5%/năm, gấp 2 lần mức tăng bình quân cả nước và 1,5 lần bình quân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là 1 trong 5 tỉnh của cả nước có số thu ngân sách trong nhiều năm qua hơn 10.000 tỷ đồng/năm, năm 2009 trên 16 tỷ, năm 2010 gần 19.000 tỷ; thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.500 USD/năm. Đến nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp tập trung (với tổng diện tích 9.093,25 ha, trong đó 24/28 KCN đã đi vào họat động), 10 cụm công nghiệp, thu hút trên 9000 dự án đầu tư trong nước, gần 2000 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 87 nghìn tỷ đồng và hơn 13,6 tỷ đô la Mỹ.

  1. Nguyên nhân và sự cần thiết phải đầu tư dự án

Sự tăng trưởng và phát triển công nghiệp nhanh và mạnh của tỉnh qua các năm, bên cạnh những những kết qủa đem lại về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, phát triển đô thị,… thì vấn đề ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm môi trường nước đã và đang đặt ra cho tỉnh phải có những giải pháp hữu hiệu để quản lý giảm thiểu các nguồn ô nhiễm này nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.

Theo ước tính, tổng lượng nước thải từ các KCN của tỉnh hiện khoảng 49.000m3/ngày và nước thải từ các cụm công nghiệp và các doanh nghiệp ngòai KCN khoảng 80.000m3/ngày. Mặc dù công tác kiểm sóat ô nhiễm của tỉnh đối với các khu cụm công nghiệp, các doanh nghiệp luôn được thực hiện khá tốt, hiện đã có 22/24 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung, 1/24 khu đang xây dựng và 1 khu đang có kế họach xây dựng, tỷ lệ đấu nối nước thải về nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt 97%, số doanh nghiệp ngòai KCN có hệ thống xử lý nước thải đạt 75% (số DN xử lý đạt tiêu chuẩn khoảng 25%), công tác thanh kiểm tra xử lý vi phạm hành chính về tài nguyên và môi trường hành năm đều tăng hơn so với năm trước (năm 2009 Sở xử phạt 470 DN, 4,7 tỷ đồng; năm 2010 xử phạt 480, tiền phạt 9,1, cả tỉnh là trên 14 tỷ đồng, trong đó phạt về môi trường trên 70%); công tác kiểm tra đột xuất về môi trường của Sở TNMT, các Phòng TNMT, Ban Quản lý các KCN, Đội kiểm tra liên ngành.v.v… được đẩy mạnh song tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải vẫn có xu hướng không giảm, phản ảnh của cử tri về tình trạng ô nhiễm nước thải của các doanh nghiệp ngày càng nhiều, nhất là phản ánh tình trạng các doanh nghiệp lợi dung trời mưa, ban đêm, ngày nghỉ, để xả nước thải không qua hệ thống xử lý ra thẳng môi trường ngày càng nhiều gây gia tăng mức độ ô nhiễm và gây nhiều bức xúc trong nhân dân.

Xuất phát từ tình hình đó, Bình Dương thấy rằng cần thiết phải có biện pháp nhằm giám sát liên tục việc xã thải nước thải của các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có nguồn thải lớn trên địa bàn tỉnh để hạn chế tình trạng đối phó của doanh nghiệp không vận hành hệ thống xử lý nước thải, xả lén…là hết sức cần thiết. Do đó, căn cứ vào các quy định về bảo vệ môi trường của trung ương (chưa có Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/07/2009 quy định về quản lý và BVMT khu kinh tế, Khu Công nghệ cao, KCN, Cụm công nghiệp) và địa phương như Luật Bảo vệ môi trường (Chương V, điều 36 quy định: đối với các khu Sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung phải có hệ thống quan trắc môi trường), Quyết định 68/2008/QĐ-UBND về ban hành Quy định BVMT tỉnh Bình Dương (quy định tại điều 30 quy định về việc lắp đặt thiết bị quan trắc lưu lượng và chất lượng nước thải đối với các Khu, Cụm công nghiệp, các doanh nghiệp có nguồn thải lớn trên địa bàn tỉnh Bình Dương) Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho UBND tỉnh và được UBND tỉnh Bình Dương chấp thuận chủ trương cho thực hiện Dự án đầu tư các Trạm quan trắc nước thải tự động cho các khu công nghiệp và các doanh nghiệp có nguồn thải lớn trên địa bàn tỉnh (công văn số 3133/ UBND – SX ngày 03 tháng 11 năm 2008) để tập trung giám sát 24/24 việc xả thải của một số KCN, một số doanh nghiệp xả thải nhiều nước vào các khu vực nhạy cảm hoặc thường xuyên có phản ảnh của cử tri.

  1. Nội dung dự án

3.1. Mục tiêu:

Nhằm giám sát một cách liên tục (24/24) họat động của các trạm xử lý nước thải cũng như chất lượng nước thải đầu ra của một số KCN điển hình và một số nguồn thải lớn trên địa bàn tỉnh để giúp các nhà quản lý giám sát chặt chẽ mọi nguồn nước thải tại mọi thời điểm và có thể có các biện pháp giải quyết/ứng cứu kịp thời nếu có các sự cố xảy ra. Đồng thời, qua dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả của công tác giám các nguồn thải bằng phương pháp quan trắc tự động, on-line để triển khai nhân rộng phương pháp này cho tất cả các nguồn thải lớn trên địa bàn tỉnh.

3.2 Nội dung thực hiện của dự án:

Dự án sẽ thực hiện đầu tư trang thiết bị và vận hành một Mạng giám tự động chất lượng nước thải tại một số nguồn thải với một số nội dung sau:

- Trang bị, lắp đặt và vận hành 6 trạm quan trắc tự động tại 6 KCN điển hình đang hoạt động của tỉnh để quan trắc chất lượng nước thải với các thiết bị tại mỗi trạm gồm: thiết bị quan trắc on-line các chỉ tiêu pH, SS, độ dẫn và COD; thiết bị đo lưu lượng dòng thải và thiết bị lấy mẫu tự động.

- Lắp đặt camera hồng ngoại để quan sát 21 nguồn thải (trong đó gồm 06 KCN chọn lắp đặt thiết bị đo online và 15 cơ sở công nghiệp và doanh nghiệp có nguồn thải lớn) để quan sát sự vận hành của các hệ thống xử lý nước thải. Mỗi trạm có 02 camera: 01 để quan sát tổng thể trạm xử lý, 01 để quan sát ngay nguồn thải ra môi trường. Đối với 15 nguồn thải có lắp đặt camera quan sát được lắp đặt kèm theo 15 thiết bị lấy mẫu tự động nhằm tiến hành lấy mẫu đột xuất từ việc quan sát họat động của trạm xử lý hoặc màu của nước thải.

- Xây dựng Trạm điều hành, xử lý dữ liệu Trung tâm nối kết tất cả các trạm quan trắc tại các KCN và có khả năng mở rộng cho nhiều nguồn thải khác.

- Xây dựng phần mềm điều khiển, quản lý và truy suất dữ liệu cho Trạm Trung tâm để phục vụ cho công tác quản lý được khoa học, nhanh chóng và dễ sử dụng. Một số tính năng điều khiển của trạm Trung tâm dự kiến:

+ Điều khiển họat động đo đạc của các trạm cơ sở, thu nhận dữ liệu từ các trạm, lưu trữ, truy xuất báo cáo;

+ Cảnh báo các bên liên quan theo cấp độ vượt tiêu chuẩn của nước thải;

+ Ra lệnh lấy mẫu theo cấp độ cảnh báo, theo thời gian hoặc theo yêu cầu của người quản lý;

+ …

- Nghiên cứu rút kinh nghiệm, xây dựng quy chế họat động, vận hành, hướng dẫn kỹ thuật, quy trình giám sát, lấy mẫu phân tích, xử lý vi phạm…để trình UBND tỉnh ban hành để áp dụng thống nhất trên tòan tỉnh.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống các trạm quan trắc nước thải tự động:

+ Các thiết bị đo được đặt trong tủ kín riêng biệt và được bố trí tại văn phòng hoặc phòng điều khiển của HTXL nước thải (Trạm cơ sở)

+ Định kỳ theo thời gian quy định, nước thải sau xử lý được bơm từ hố gas thoát nước thải vào trạm quan trắc tự động. Các thiết bị quan trắc sẽ đo đạc và chuyển dữ liệu vào bộ thu tín hiệu, các dữ liệu được truyền về trạm điều khiển (Trạm Trung tâm) đặt tại Trung tâm Quan trắc tỉnh Bình Dương theo đường cáp quang/GPRS để xử lý theo các tình huống như nhắc nhở người quản lý trạm xử lý nước thải, thông báo cho cán bộ quản lý của Chi cục BVMT, Trung tâm Quan trắc, điều khiển lấy mẫu tự động và lưu mẫu…

+ Nước thải sau khi đo đạc xong được bơm tuần hoàn trở về hố gas xả thải.

+ Hệ thống camera quan sát sẽ được đặt gần hố gas xả thải và camera cao 12m ở vị trí thích hợp cho phép quan sát toàn bộ hoạt động của HTXL, tín hiệu của camera được thu vào bộ thu tín hiệu sau đó truyền về Trạm điều khiển tại Trung tâm Quan trắc qua mạng cáp quang và được hiển thị trên màn hình. Đối với 15 nguồn thải không có thiết bị quan trắc on-line, tùy theo quan sát từ màn hình camera tại Trạm điều khiển trung tâm (hệ thống xử lý không họat động, màu nước thải đục…) có thể ra lệnh cho thiết bị tiến hành lấy mẫu tự động tại nguồn thải.

3.3. Kinh phí:

- Đầu tư các thiết bị quan trắc tự động, đo lưu lượng, lấy mẫu tự động, xây dựng Trạm điều hành trung tâm: 13.800.000.000 đồng

- Lắp đặt hệ thống camera quan sát, đường truyền dữ liệu cáp quang: 9.500.000 đồng

Tổng kinh phí đầu tư: 23.300.000.000 đồng.

 3.4. Lựa chọn công nghệ, thiết bị cho dự án:

Công nghệ, thiết bị quan trắc on-line đối với nước thải đã được các nước tiến tiến trên thế giới áp dụng từ lâu, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn là một lĩnh vực mới chưa được tiếp cận, do đó việc lưa chọn công nghệ, thiết bị nào để đạt được hiệu quả cao nhất là môt khó khăn cho tỉnh trong quá trình thực hiện.

Qua nghiên cứu, xem xét thiết bị của các hãng giới thiệu tại Việt Nam thì các thiết bị dùng để đo các chỉ tiêu pH, SS, EC là tương đối phổ biến và giá cả không quá cao. Riêng chỉ tiêu COD là còn mới, có các công nghệ, thiết bị đo khác nhau, giá thành cao, độ chính xác chưa có cơ sở kiểm chứng nên gặp khó khăn khi xem xét lựa chọn. Quá trình xem xét cho thấy có các thiết bị khác nhau, nguyên lý đo khác nhau, tuy nhiên có 2 loại cơ bản là:

- Loại công nghệ đo theo nguyên lý sử dụng tia UV ở bước sóng 254nm để tinh toán COD trong nước thải. Công nghệ này có ưu điểm là thiết bị nhỏ gọn, đo nhanh, đo được liên tục, cho giá trị tức thời, không tốn nguyên vật liệu, hóa chất hạn chế nhân công vận hành, quản lý nhưng giá thành cao, độ chính xác đối với nước thải KCN về lý thuyết cần phải kiểm chứng nhiều hơn. Các thiết bị đo theo nguyên lý này trên thị trường có nhiều hãng như Hach của Mỹ, WTW của Đức, Scan của Áo,…

- Loại công nghệ đo theo nguyên lý dùng tia UV và H2O2 để oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải để từ đó xác định COD. Công nghệ này giống như một Mini LAB nên thiết bị lớn, cồng kềnh, thời gian đo ra kết quả khoảng 10’, có nhiều chi tiết cần được thay thế thường xuyên, phải bổ xung hóa chất nên tốn nhân công chăm sóc, tuy nhiên về lý thuyết kết quả đo có độ chính xác cao hơn. Thiết bị này có hãng Gmart của Đức.

Sau khi tham khảo, xem xét ưu, nhược của các loại thiết bị, tham khảo ý kiến của chuyên gia, tham khảo Tổng cục Môi trường, Bình Dương quyết định lựa chon cả 3 loại thiết bị của các hãng là HACH, WTW, GMART, mỗi hãng lắp đặt cho 2 KCN để xem xét đối chứng, sau khi đi vào hoạt động sẽ đánh giá từng thiết bị từ đó có định hướng cho các đầu tư về sau.

3.5. Tiến độ thực hiện:

Dự án đã hoàn thành công tác chỉ định thầu, ký kết hợp đồng, hiện đang trong giai đọan thi công, lắp đặt thiết bị. Dự kiến sẽ hòan thành và đưa vào họat động vào cuối tháng 6 năm 2011.

  1. Nhận xét, đánh giá:

- Ưu điểm:

+ Đầu tư các trạm quan trắc nước thải tự động cho các Khu công nghiệp và các doanh nghiệp có nguồn thải lớn trong giai đoạn này là một giải pháp hữu hiệu trong việc giám sát chất lượng tại các nguồn thải, đảm bảo việc quan trắc liên tục, có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nước thải chưa xử lý đạt tiêu chuẩn đến môi trường sinh thái, hạn chế được nguồn nhân lực trong quá trình thanh kiểm tra.

+ Tăng cường được tính răn đe đối với doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý môi trường. Kịp thời có các biện pháp giải quyết/ứng cứu khi có các sự cố xảy ra.

+ Trên cơ sở vận hành mạng quan trắc tự động đã xây dựng, trong tương lai các doanh nghiệp có nguồn thải lớn phải tự trang bị trạm quan trắc tự động chất lượng nước thải và kết nối vào hệ thống quan trắc của Sở Tài nguyên Môi  Trường.

+ Trạm quan trắc tự động của tỉnh có thể kết nối và chia sẻ thông tin với Trung tâm quan trắc của Trung ương.

- Hạn chế:

Bình Dương lần đầu tiên triển khai và cũng là tỉnh đầu tiên trong cả nước đi đầu triển khai thực hiện việc quan trắc nước thải tự động do đó chưa có kinh nghiệm trong việc lựa chọn công nghệ, thiết bị. Việc đầu tư các thiết bị quan trắc nước thải tự động có chi phí đầu tư lớn và cũng còn có rủi ro về thiết bị chưa lường trước được. Để triển khai cần có sự đồng thuận, ủng hộ của lãnh đạo tỉnh, các ngành thì dự án mới triển khai được.

  1. Kiến nghị

Giải pháp kiểm sóat ô nhiễm bằng các thiết bị quan trắc online chắc chắn sẽ đem lại nhiều thuận lợi và hiệu quả trong công tác quản lý môi trường, vì vậy để sớm triển khai họat động này vào thực tiễn trên phạm vi rộng và đồng bộ, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cần tạo thêm nhiều cơ sở pháp lý vững chắc, các hướng dẫn kỹ thuật thống nhất cũng quy định về chế tài đối với các vi phạm để tạo thuận lợi cho các tỉnh triển khai.

Nguồn: cem.gov.vn

Chia sẻ:
Ý kiến bạn đọc